°C

Về xứ Nẫu tham gia lễ hội văn hóa đặc sắc - Hội bài chòi Đắk Lắk

18/10/2025

Thúy Ngần

5

Giữa nắng gió miền Trung, Đắk Lắk hiện lên trong tâm trí mỗi du khách không chỉ bởi các điểm đến du lịch nổi tiếng mà còn bởi nét văn hóa đặc sắc - hội bài chòi.

"Địa điểm Phú Yên nay là Đắk Lắk do Phú Yên đã được sáp nhập thành Đắk Lắk"

1. Tổng quan về hội bài chòi Đắk Lắk

Bài chòi là một loại hình nghệ thuật dân gian đặc trưng của vùng duyên hải miền Trung Việt Nam, trong đó nổi bật là các tỉnh như Gia Lai, Đà Nẵng,Quảng Ngãi,... Đây là sự kết hợp độc đáo giữa trò chơi dân gian và nghệ thuật diễn xướng dân tộc, mang tới một sân khấu văn hóa cộng động vô cùng thú vị gắn kết mọi người dân từ xa lạ thành thân quen. Bài chòi gồm hai yếu tố chính: Chòi là những túp lều nhỏ được dựng bằng tre nứa, chia đều cho người chơi ngồi bên trong - thường được bố trí thành hình vòng cung hoặc hình chữ U quanh một khoảng sân rộng; trong khi đó Bài là những quân bài dân gian đặc biệt (thường gồm 30 thẻ bài), mỗi chòi sẽ được phát 3 thẻ bài - các thẻ còn lại được để lại cho người xướng (gọi là anh hiệu) dùng để rút ngẫu nhiên và hô lên bằng lời hát. Với giá trị nghệ thuật và ý nghĩa xã hội sâu sắc, năm 2017, Nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ Việt Nam đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đây không chỉ là niềm tự hào của người miền Trung mà còn là minh chứng cho sức sống trường tồn của văn hóa Việt Nam trong lòng thế giới.

Đôi nét về di sản bài chòi Đắk Lắk. Ảnh: Sưu tầm
Đôi nét về di sản bài chòi Đắk Lắk. Ảnh: Sưu tầm

Lễ hội bài chòi ở Đắk Lắk là một trong những sinh hoạt văn hóa cộng đồng đặc sắc, mang đậm dấu ấn truyền thống của cư dân vùng duyên hải miền Trung. Mỗi dịp Tết đến xuân về, không gian làng quê rộn ràng tiếng trống, tiếng hô bài ngân vang tại những không gian rộng rãi như quảng trường, sân đình, sân chùa hoặc ven biển, nơi người dân dễ dàng tụ họp và tham gia. Điều làm nên sức sống mãnh liệt của lễ hội bài chòi không chỉ là hình thức chơi độc đáo, mà chính là không khí ấm cúng, chan chứa tình làng nghĩa xóm. Người dân không phân biệt già trẻ, trai gái - ai cũng có thể tham gia, cùng nhau thưởng thức những câu hô bài sâu cay, hài hước, thấm đẫm chất dân gian và triết lý sống bình dị. Lễ hội không chỉ là nơi giải trí, là dịp để cộng đồng gắn bó, sẻ chia, cùng nhau giữ gìn bản sắc quê hương, đồng thờ cũng góp phần quan trọng trong việc giáo dục thế hệ trẻ về giá trị văn hóa dân tộc, truyền cảm hứng yêu quê hương, yêu tiếng Việt và yêu những gì mộc mạc nhất của đời sống dân gian.

2. Lịch sử phát triển lễ hội văn hóa đặc sắc này

Bài chòi xuất hiện vào khoảng thế kỷ XVII trong bối cảnh người Việt từ miền Bắc và Bắc Trung Bộ tiến về phía Nam trong công cuộc mở mang bờ cõi. Khi định cư ở vùng đất Đắk Lắk và các tỉnh duyên hải miền Trung, cư dân nơi đây đã sáng tạo nên nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa mới để thích nghi với đời sống khắc nghiệt của khí hậu, thiên nhiên. Trong số đó, bài chòi ra đời như một hình thức giải trí dân gian vào dịp Tết cổ truyền, nhằm tạo không khí vui tươi, đầm ấm và tăng sự gắn kết cộng đồng. Ban đầu, đây chỉ là trò chơi đơn giản giữa các hộ dân trong làng - cùng dựng các chòi tre, chia bài, rồi có một người “hô bài” lên để người chơi cùng chờ đợi và trúng thưởng. Từ đó, bài chòi phát triển thành một loại hình nghệ thuật dân gian tổng hợp, kết hợp giữa trò chơi, ca hát, kể chuyện và diễn xướng dân tộc, đặc biệt được yêu thích tại các vùng quê Đắk Lắk như Tuy An, Đồng Xuân, Sông Cầu,...

Sang thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, bài chòi dần trở thành hoạt động văn hóa không thể thiếu trong các dịp lễ Tết. Lễ hội bài chòi được tổ chức rộng rãi tại đình làng, sân chùa, quảng trường ven biển... với sự tham gia đông đảo của người dân. Lúc này, nghệ thuật hô bài được nâng tầm: anh hiệu không chỉ hô bài để người chơi trúng thưởng mà còn trở thành nghệ sĩ dân gian, biểu diễn ứng tác, phản ánh tâm lý và lối sống của người dân miền Trung qua ngôn ngữ ca dao, tục ngữ, thơ trào phúng và tiếng cười châm biếm duyên dáng.

Tuy nhiên, bước vào giai đoạn giữa thế kỷ XX, do ảnh hưởng của chiến tranh, đô thị hóa và thay đổi trong lối sống, lễ hội bài chòi dần bị thu hẹp, thậm chí có thời kỳ gần như biến mất ở một số đô thị. Dẫu vậy, tại các vùng nông thôn Đắk Lắk, người dân - đặc biệt là các nghệ nhân cao tuổi vẫn âm thầm giữ gìn trò chơi truyền thống này. Từ cuối những năm 1990, các cấp chính quyền và hội văn hóa nghệ thuật tỉnh Đắk Lắk mới bắt đầu quan tâm trở lại đến việc phục dựng lễ hội bài chòi. Bài chòi dần được đưa vào chương trình Tết cổ truyền, ngày hội văn hóa dân tộc, và các sự kiện cộng đồng. Đồng thời, các lớp truyền dạy, câu lạc bộ bài chòi truyền thống cũng dần được thành lập, tạo điều kiện cho thế hệ trẻ hiểu và yêu thích hơn nét đẹp văn hóa nghệ thuật này. 

Lịch sử phát triển bài chòi. Ảnh: Sưu tầm
Lịch sử phát triển bài chòi. Ảnh: Sưu tầm

Một dấu mốc quan trọng trong hành trình phát triển của lễ hội bài chòi là vào ngày 7/12/2017, khi Nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ Việt Nam, trong đó có Đắk Lắk mới là một địa phương tiêu biểu, được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Sự kiện này không chỉ là niềm tự hào lớn lao của người dân địa phương, mà còn đánh dấu bước chuyển mình mạnh mẽ cho hoạt động bảo tồn và quảng bá lễ hội bài chòi nói riêng và nghệ thuật dân gian Việt Nam nói chung. Ngày nay, lễ hội bài chòi Đắk Lắk không chỉ là hoạt động văn hóa dân gian mà còn là sản phẩm du lịch độc đáo, góp phần tạo dựng thương hiệu văn hóa xứ Nẫu, nếu có dịp tới Đắk Lắk, bạn đừng bỏ lỡ cơ hội thưởng thức và tìm hiểu sâu nhé!

3. Lời bài hát và cách chơi bài chòi Đắk Lắk chính xác

Bài chòi Đắk Lắk là một trong những loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc, trong đó yếu tố trò chơi và nghệ thuật diễn xướng hòa quyện vào nhau một cách sống động, hấp dẫn, tuy nhiên, cách chơi bài cũng khá đơn giản. Người chơi ngồi trong các chòi nhỏ được dựng bằng tre, gọi là "chòi con", sắp xếp thành hình vòng cung. Ở giữa là chòi cái, nơi người điều khiển trò chơi - gọi là anh hiệu hoặc chị hiệu - sẽ vừa bốc bài vừa hát hô để người chơi đoán. Bộ bài dùng trong bài chòi gồm 30 lá bài, được chia thành 10 đôi, mỗi đôi có tên riêng như: Nhì Nghèo, Tám Gà, Tam Quần, Lục Ớt, Tứ Sách, Nhất Nọc, Bát Bạch,... Trước khi bắt đầu, người chơi mua thẻ (bài) và được chia ngẫu nhiên 3 lá. Anh hiệu sẽ lần lượt bốc từng lá trong bộ bài cái, rồi hô lên một câu hát có nội dung ẩn dụ, hàm ý nhắc đến tên của lá bài đó. Người chơi phải lắng nghe kỹ, đoán xem lá bài đó có trùng với lá mình giữ hay không. Nếu đúng thì họ giơ cờ báo hiệu. Ai là người trúng đủ ba lá bài trước tiên sẽ được công nhận là “chòi tới”, tức là thắng cuộc. 

Biểu diễn bài chòi. Ảnh: Sưu tầm
Biểu diễn bài chòi. Ảnh: Sưu tầm

Điểm độc đáo và hấp dẫn nhất của bài chòi nằm ở những câu hô bài - lời hát được sáng tác ứng khẩu hoặc truyền miệng. Những câu hô thường mang màu sắc dân gian, có vần điệu, sử dụng lối nói ví von, hài hước, đôi khi sâu cay hoặc bóng gió về cuộc sống, tình duyên, thân phận con người.

Như vậy, , lời bài hát và cách chơi bài chòi Đắk Lắk không chỉ là một phần của trò chơi dân gian mà còn là di sản tinh thần quý giá của cộng đồng người Việt miền Trung. Trong mỗi câu hát, du khách có thể cảm nhận được trọn vẹn không khí sôi động đầu năm, hiểu hơn về nét đẹp của một vùng quê xứ Nẫu yên bình. 

Trên đây là những chia sẻ của SmartTravel về hội bài chòi Đắk Lắk- nét đẹp văn hóa nghệ thuật độc đáo của xứ Nẫu. Nếu có dịp tới đây, đừng bỏ lỡ cơ hội lắng nghe và tìm hiểu về lễ hội ý nghĩa này nhé!

Địa điểm liên quan

Nhà hàng Thung Lũng Hồng

Số 153, đường Phan Chu Trinh, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk

Đang cập nhật

Nhà hàng Tài

91 Đường Nguyễn Khuyến, Phường Tân Lợi, TP. Buôn Ma Thuột, Tỉnh Đắk Lắk

Đang cập nhật

Nhà hàng Làng Tôi

Số 27, đường Tôn Đức Thắng, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk

Đang cập nhật

Nhà hàng Phố Nướng

Số 150, đường Hùng Vương, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk

Đang cập nhật

Nhà hàng Ngô Đồng

Số 123, đường Nguyễn Khuyến, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk

Đang cập nhật